Cách sử dụng công cụ này
- Nhập Tiền tiết kiệm hiện có (ví dụ 2 tỷ đồng) và Rút hằng tháng (ví dụ 15 triệu đồng).
- Nhập Lợi nhuận hằng năm mà khoản tiền còn lại sinh ra, chẳng hạn lãi tiền gửi hoặc lợi nhuận đầu tư bình quân.
- Nhập Mức rút tăng mỗi năm để phản ánh trượt giá; đặt 0 nếu bạn giữ nguyên số tiền rút.
- Đọc số tháng tiền còn dùng được, tỷ lệ rút năm đầu và mức rút hằng tháng bền vững trong 30 năm.
Số dư được dự phóng thế nào
Mỗi tháng, số dư được cộng lãi theo tỷ lệ lợi nhuận hằng tháng rồi trừ khoản rút. Cứ mỗi 12 tháng, khoản rút được tăng thêm theo tỷ lệ bạn nhập. Khi số dư xuống dưới 0, công cụ dừng lại và báo số tháng tiền còn dùng được.
Bₘ = Bₘ₋₁ × (1 + i) − Wₘ- Bₘ = số dư sau tháng thứ m
- i = lợi nhuận mỗi tháng, (1 + lợi nhuận năm)^(1/12) − 1
- Wₘ = khoản rút ở tháng m, tăng thêm theo tỷ lệ hằng năm sau mỗi 12 tháng
Công cụ cũng tính mức rút hằng tháng cố định mà nếu rút đều thì số dư vừa hết sau 30 năm với cùng mức lợi nhuận, để bạn có một mốc so sánh.
Ví dụ: 2 tỷ đồng và rút 15 triệu đồng mỗi tháng
Với 2 tỷ đồng, lợi nhuận 6%/năm, rút 15 triệu đồng mỗi tháng và tăng khoản rút 4%/năm, tiền dùng được 154 tháng (khoảng 12 năm 10 tháng). Tỷ lệ rút năm đầu là 9% số dư.
Nếu bạn không tăng khoản rút (0%), tiền kéo dài 216 tháng, tức 18 năm. Giảm khoản rút xuống 10 triệu đồng mỗi tháng (vẫn tăng 4%/năm) thì tiền dùng được 248 tháng, khoảng 20 năm 8 tháng.
Đọc mức rút bền vững
Với 2 tỷ đồng và lợi nhuận 6%, mức rút cố định để tiền vừa đủ 30 năm là khoảng 11,79 triệu đồng mỗi tháng (không tăng theo trượt giá). Nếu lợi nhuận chỉ 3%, con số này giảm còn khoảng 8,39 triệu đồng, và với rút 15 triệu đồng tiền chỉ dùng được 130 tháng.
Điều này cho thấy lợi nhuận chênh vài điểm phần trăm làm thay đổi thời gian rất nhiều. Vì vậy hãy thử vài mức lợi nhuận, ví dụ 3%, 6% và 8%, thay vì chỉ một giả định.
Dùng kết quả để quyết định
Nếu số tháng ngắn hơn khoảng thời gian bạn cần (ví dụ từ lúc nghỉ việc đến hết đời), bạn có ba lựa chọn: rút ít hơn, tăng lợi nhuận bằng cách đầu tư dài hạn hơn, hoặc làm thêm một thời gian. Hãy đối chiếu với kế hoạch hưu trí và tự do tài chính để biết cần bao nhiêu vốn.
Nếu bạn muốn biến số dư thành khoản chi trả đều theo kỳ, xem thêm công cụ tính niên kim. Nhớ tính cả lạm phát: 15 triệu đồng hôm nay không mua được cùng lượng hàng sau mười năm.
Cách giúp tiền dùng được lâu hơn
- Giảm khoản rút trong những năm thị trường xấu và chỉ tăng khi số dư cho phép.
- Giữ một phần tiền ở dạng dễ rút (tiền gửi, quỹ trái phiếu) để không phải bán tài sản lỗ khi cần chi tiêu.
- Tìm thêm nguồn thu nhỏ như cho thuê nhà, làm bán thời gian, lương hưu để giảm áp lực lên khoản tiết kiệm.
- Giữ phí đầu tư thấp, vì phí ăn vào đúng phần lợi nhuận bạn đang dựa vào.
Giả định và giới hạn
Lợi nhuận là mức trung bình không đổi mỗi năm, trong khi thực tế biến động và thứ tự các năm tốt xấu ảnh hưởng lớn. Thuế, phí, chi tiêu bất thường và lương hưu không được tính, và dự phóng dừng ở 100 năm. Đây chỉ là hướng dẫn tham khảo; hãy trao đổi với chuyên gia tài chính được cấp phép khi lập kế hoạch rút tiền.
Câu hỏi thường gặp
Mỗi tháng rút bao nhiêu thì tiền không cạn?
Xem dòng mức rút bền vững 30 năm trong kết quả. Muốn dùng lâu hơn thế, hãy rút ít hơn hoặc chấp nhận để dành nhiều hơn.
Mức tăng khoản rút mỗi năm có tác dụng gì?
Nó mô phỏng chi phí sinh hoạt tăng theo lạm phát. Tăng khoản rút khiến tiền cạn sớm hơn so với rút cố định.
Vì sao đổi lợi nhuận một chút mà thời gian thay đổi nhiều?
Phần lãi được cộng dồn lên một số dư lớn trong nhiều năm, nên chênh lệch nhỏ mỗi năm tích lũy thành khác biệt lớn.
Kết quả báo tiền dùng được hơn 100 năm nghĩa là gì?
Nghĩa là lãi sinh ra đủ bù khoản rút nên số dư không cạn trong giới hạn dự phóng của công cụ. Đó vẫn chỉ là giả định, không phải cam kết.